Thủy điện Trung Quốc: Tai họa cho lưu vực và Việt Nam

Thiên Nam 10/04/2016(07/03/2018)
( baodatviet.vn) Thủy điện Trung Quốc không chỉ gây họa cho chính họ mà còn gây tai họa lớn cho các nước vùng hạ du, đặc biệt là Việt Nam.+ Thủy điện đã gây hại lớn cho chính Trung Quốc
Quốc gia này hiện có hơn 25.000 đập, chiếm một nửa số đập trên toàn thế giới. Tại phía Tây Nam Trung Quốc, cũng có ít nhất 114 đập trên 8 con sông đã, đang và sẽ được xây dựng, trong đó nhiều dự án thuộc loại lớn nhất trên thế giới, tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái.

Riêng tại thượng nguồn sông Mekong, Trung Quốc dự kiến làm tới 19 con đập, trong đó gần một nửa đã xây xong, có dự án rất lớn như: Mãn Loan 1.500 MW, Tiểu Loan 4.200 MW và đặc biệt là dự án thủy điện cực lớn Nọa Trác Độ có công suất lên tới 5.860 MW…

Các dự án đập đã buộc hơn 23 triệu người dân phải từ bỏ nhà cửa, đất đai và phần nhiều trong số đó đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc chuyển dời chỗ ở.

Khoảng 30% số lượng các sông ở Trung Quốc cũng đang bị ô nhiễm nặng bởi các chất thải, phế phẩm nông nghiệp, khai mỏ và hóa chất công nghiệp. Dòng chảy của một số sông như sông Hoàng Hà thậm chí còn bị thay đổi tới mức không thể đổ ra biển.

Hoàng Hà bắt đầu đứt dòng chảy và kể từ thập niên 90, trung bình mỗi năm Hoàng Hà có tới hơn 100 ngày không có nước. Hàng trăm nghìn nông dân phải bỏ ruộng đất màu mỡ ở quê hương để dời đến những vùng đất cằn cỗi ở vùng sâu, vùng xa, một số người thậm chí mất sạch cơ nghiệp.

Trong số các đập của Trung Quốc và trên toàn thế giới, đập Tam Hiệp ngoài việc là con đập hoành tráng nhất (Đập Tam Hiệp có chiều cao 185m, chiều dài 2.390m), với tổng vốn đầu tư lớn nhất (22,5 tỷ USD), nhưng là dự án tai tiếng nhất.

Lượng điện được tạo ra từ con đập có tổng công suất là 18,2 triệu kW, tổng sản lượng điện hàng năm là 84,68 tỉ kWh, ngang với với 15 lò phản ứng hạt nhân, tương đương với 25 nhà máy nhiệt điện, nhưng cái giá phải trả cho sự đánh đổi này cũng không hề nhỏ.

Hơn nữa, dự án đã gây ra biết bao phiền toái bởi nạn tham nhũng, tình trạng lạm phát, vi phạm nhân quyền, kèm theo những mối hiểm họa về môi trường và những khó khăn trong quá trình tái định cư.

Hơn 1,3 triệu dân đã phải di dời để nhường đường cho con đập, trong đó, hàng trăm nghìn người chỉ nhận được những mảnh đất nhỏ, cằn cỗi hoặc bị đưa đến các khu ổ chuột ở thành phố với số tiền đền bù ít ỏi và nhà ở chật hẹp.

Việc để xảy ra sạt lở tại 91 điểm ven hồ chứa đập Tam Hiệp cũng làm chết rất nhiều người, buộc các ngôi làng tái định cư tiếp tục phải di dời.

Bên cạnh đó, những cơn động đất cũng ngày một tăng. Điều này làm tăng sự chính xác của giả thuyết, các đập lớn có thể tạo ra động đất lớn thông qua hàng loạt các cơn địa chấn nhỏ phát sinh từ hồ chứa.
Bằng chứng là trận động đất kinh hoàng 7,9 độ richter xảy ra vào tháng 5-2008 tại tỉnh Tứ Xuyên, làm chết gần 90.000 người, nguyên nhân có thể do ảnh hưởng của đập Zipingpu.

Chất lượng nước sụt giảm nghiêm trọng cũng là vấn nạn phát sinh do thủy điện. Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi của dự án Đập Tam Hiệp, chất lượng nước ở vùng này được đánh giá là tốt nhất Trung Quốc và đứng hàng thứ hai trong tất cả các đoạn sông. Nhưng sau đó chất lượng đã tụt xuống thảm hại.

Với việc làm ngập nhiều vùng đất rộng của rừng nhiệt đới, kèm theo sự gia tăng các hoạt động khai thác gỗ, phá rừng, các con đập làm xáo trộn sự cân bằng nguồn nước vốn rất mong manh của sông và làm tăng hiện tượng khô hạn của rừng – vấn đề đang diễn ra phổ biến do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Một tai họa khác do các con đập gây ra là lượng phát thải khí nhà kính có thể gia tăng nhanh từ việc thực hiện các dự án đập thủy điện. Một số đập nước đã phát thải khí nhà kính gấp hàng chục lần (lượng khí này sinh ra do nguồn thực vật bị phân hủy trong hồ chứa của đập).

Như vậy, thủy điện tuy ban đầu được ngợi ca là nguồn năng lượng sạch nhưng thực chất chúng lại gây ra những thảm họa cực lớn về mặt môi trường. Cùng với những tác hại khác, thủy điện là một con dao 2 lưỡi mà người sử dụng rất dễ lâm vào tình trạng “lợi bất cập hại”.

+ Di họa rất lớn cho các nước vùng hạ du sông Mekong như Việt Nam.

Không chỉ gây hại cho bản thân Trung Quốc mà việc nước này xây đập thủy điện cũng di họa rất lớn cho các nước vùng hạ du sông Mekong như Việt Nam.

Hiện có 19 đập thủy điện đã và nằm trong kế hoạch xây dựng trên sông chính Mekong, trong đó, 8 cái ở Trung Quốc với 5 đập đã đi vào hoạt động và 3 đập đang có kế hoạch xây dựng, 9 cái tại Lào và 2 cái ở địa phận Campuchia đang nằm trong dự án sẽ xây dựng.

Đó là chưa kể, hàng chục thủy điện lớn nhỏ tại các nhánh con của sông Mekong.

Mekong là 1 trong 10 con sông lớn nhất thế giới; nơi cung cấp gạo lớn nhất thế giới; có nguồn cá và đa dạng sinh học lớn thứ hai thế giới; có tải lượng phù sa thứ sáu trên thế giới (160 triệu tấn/năm) và là vùng đất đa dạng văn hóa nhất trên thế giới.

Thủy điện sông Mekong sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của 60 triệu người dân sống dọc 2 bên dòng sông; trong đó, 80% phụ thuộc trực tiếp vào sông, với đã số người dân làm nghề nông và đánh bắt, nuôi trồng thủy sản.

Hiện nay, ước tính mỗi năm các đập thủy điện trên sông Mekong gây thiệt hại về kinh tế cho người dân sống hai bên lưu vực sông lên tới hàng tỷ dolars Mỹ. Nếu 19 đập thủy điện trên dòng chính của sông Mekong xây dựng xong thì thiệt hại sẽ không thể xác định được.

Những đập thuỷ điện Trung Quốc làm thay đổi toàn bộ hệ thống sinh thái dọc theo các con sông lớn. Một khi dòng nước thay đổi sẽ kéo theo tất cả những thứ khác như môi trường, giao thông, bố trí dân cư… cũng thay đổi theo hướng phụ thuộc vào nguồn nước của Trung Quốc.

Ngoài những yếu tố mà chúng ta đã phân tích ở kỳ trước như lợi dụng thủy điện để mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tăng sự phụ thuộc về chính trị, kinh tế, quân sự của các nước nhận đầu tư vào Trung Quốc, trở thành bãi rác công nghệ của Trung Quốc, các nước hạ lưu còn gặp phải rất nhiều tai họa khác.

Đặc biệt là Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phải gánh chịu tác động cực kỳ to lớn từ các dự án thủy điện của Trung Quốc ở thượng nguồn, bao gồm: Thiếu hụt nguồn nước dẫn tới xâm nhập mặn nghiêm trọng vào mùa khô; tăng nguy cơ lũ lụt vào mùa mưa; suy giảm lượng phù sa bồi đắp cho đồng bằng và tổn hại nguồn lợi thủy sản.

+ Làm tăng nguy cơ thiên tai

Trên thượng nguồn sông Mekong (Trung Quốc gọi là Lan Thương), chảy sang phía Tây Nam, qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, Trung Quốc đã xây dựng và có kế hoạch xây dựng khoảng 19 đập thuỷ điện.

Đây là con sông lớn cung cấp nước và tài nguyên nuôi sông hàng trăm triệu dân vùng hạ lưu. Khi Bắc Kinh xây đập thủy điện phía thượng nguồn, nước trên con sông này không tuân theo tự nhiên nữa mà theo sự điều tiết của người xây dựng hồ đập là Trung Quốc.

Một tác hại của nó là khi mùa khô đến người dân các nước hạ lưu cần nước để sản xuất thì Trung Quốc lại tích nước để làm thủy điện, còn khi mùa lũ đến thì họ lại xả nước khiến các quốc gia hạ lưu rất dễ lâm vào tình trạng lụt lội cực kỳ nguy hiểm.

Ví dụ như tại Việt Nam, nước trên sông Hồng đoạn chảy qua Thành phố Lào Cai từng bị biến đổi khác thường. Cục Quản lý tài nguyên nước khẳng định, các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn phía Trung Quốc đã làm tăng thêm tình trạng cạn kiệt, thiếu nước trên các sông của Việt Nam, trong đó có sông Hồng.

Các kết quả quan trắc tại các trạm thủy văn trên sông Đà, sông Lô và sông Thao cho thấy đã có hiện tượng suy giảm lượng nước từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam. Cụ thể, lưu lượng nước trên sông Đà, tại trạm thủy văn Lai Châu trong các năm 2007 – 2009 xuống thấp nhất trong lịch sử từ năm 1957 đến nay.

Lưu lượng nhỏ nhất trong tháng 1-2007 là 181m3/giây và năm 2008 là 151m3/giây, trong khi lưu lượng trung bình là 318m3/giây. Lưu lượng nhỏ nhất trong tháng 3-2007 là 133 m3/giây và tháng 3-2008 là 103 m3/giây trong khi lưu lượng trung bình là 198 m3/giây…

Chúng ta cũng đã biết rằng, đợt khô hạn kỷ lục ở đồng bằng sông Cửu Long thời gia qua cũng xuất phát từ nguyên nhân các đập thủy điện Trung Quốc tích nước quá nhiều để phát điện trong mùa khô. Chỉ đến khi chính phủ nước ta đưa ra kiến nghị thì Trung Quốc mới xả đập Cảnh Hồng để chống hạn cho các nước hạ du.

Vấn đề này khiến các nước nằm cuối nguồn nước rất lo ngại, bởi các yếu tố mang tính chất thiên tai của các nước này lại phần lớn là do Bắc Kinh chi phối.

+ Gây hại đến sản xuất nông nghiệp

Các nước ở hạ du sông Mekong mà đặc biệt là Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phải gánh chịu tác động to lớn, chưa thể lường trước từ các dự án thủy điện của Trung Quốc ở thượng nguồn.

12 đập đã được xây dựng trên dòng chính sông Mekong là đập dâng, dung tích từ 200 triệu đến 2 tỉ mét khối nước/đập, sẽ tác động rất lớn đến an ninh lượng thực, an ninh nguồn nước và an ninh xã hội của 18 triệu dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Theo tính toán của các nhà khoa học, Việt Nam đang bị thiếu hụt nguồn nước ở hạ du; xâm nhập mặn nghiêm trọng; suy giảm lượng phù sa bồi đắp cho đồng bằng từ 26 triệu tấn/năm xuống còn 7 triệu tấn/năm; tổn hại nguồn lợi thủy sản có thể lên đến 1 tỉ USD mỗi năm,và hơn nữa.

Lượng phù sa từ trên đổ về ít đi, đây là yếu tố nguy hiểm cho việc cải thiện đất. Hơn nữa, thiếu lượng phù sa sẽ dẫn đến xói lở bờ sông. Dòng chảy của nước bị chậm lại và khả năng tự làm sạch của nó cũng bị giảm rất đi rất nhiều, chất lượng nước trở nên kém hơn.

Cũng theo đánh giá này, nếu tất cả các đập thủy điện được xây dựng trên sông Mekong thì chất dinh dưỡng, trầm tích đổ vào đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn khoảng 25%, tức là giảm 75% dinh dưỡng, trầm tích so với trước đây và qua đó, gián tiếp ảnh hưởng đến vựa lúa và nông sản của Việt Nam.
Dù có nhiều ý kiến không đồng thuận nhưng đập Xayabury của Lào vẫn được xây dựng

Như vậy, một khi vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng thì nó không chỉ trực tiếp tác động đến sản lượng lúa gạo của Việt Nam, mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến an ninh lương thực thế giới vì 90% lượng gạo xuất khẩu mỗi năm của Việt Nam là từ khu vực này.

+ Ảnh hưởng lớn đến ngành sản xuất thủy sản

Theo Tổ chức Sông ngòi quốc tế, các đập thủy điện khiến cho tổn hại nguồn lợi thủy sản ước tính khoảng 1 tỷ USD mỗi năm. Các con đập được dựng lên chắn ngang các dòng sông khiến cá không di chuyển được, đồng thời cũng làm thay đổi môi trường nước tự nhiên của chúng.

Sông Mekong hiện có khoảng gần 1.000 loài cá, trong đó một phần ba các loài có đời sống di chuyển khoảng 1.000 km để kiếm ăn và sinh sản. Ở một số vùng, vào mùa sinh sản lượng cá di chuyển có thể lên đến 3 triệu con mỗi giờ, khiến sông Mekong trở thành vùng di cư lớn nhất thế giới.

Theo kết quả nghiên cứu của Ủy hội sông Mekong, những ảnh hưởng nặng nề từ các đạp thủy điện đã khiến lượng cá trên sông Mekong suy giảm 26-42%. Ngoài ra, có khoảng hơn 100 loài cá đứng trươc nguy cơ tuyệt chủng, dẫn đến thiệt hại khoảng gần 1 tỷ USD/năm.

Hệ thống thủy điện của Trung Quốc và nước này xây dựng ở các nước Đông Nam Á đe dọa tương lai của cả đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam. Nước trên dòng sông này có đến 80% được cung cấp từ bên ngoài, mà chúng ta không thể kiểm soát được nguồn nước từ thượng nguồn.

Chúng ta sẽ đối diện những nguy cơ về rủi ro mà không có cách nào có thể khắc phục được. Hạn hán và ngập mặn có thể xây hồ chứa và đê ngăn mặn nhưng còn việc xả lũ thì không có cách nào chống lại được.

Do đó, ngay từ bây giờ nhà nước nên tìm giải pháp ngăn chặn nguy cơ đó, không để tình trạng xây dựng đập tràn lan vô tội vạ như hiện nay. Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nếu chúng ta không có những biện pháp quyết liệt thì sau này phải gánh chịu rủi ro cũng là chuyện đã quá muộn.

Thiên Nam
Ảnh 1: Đập Tam Hiệp là dự án thủy điện đầy tai tiếng
Ảnh 2: Đập thủy điện Nọa Trác Độ của Trung Quốc trên sông Mekong với công suất 5.860 MW
Tham khảo:

http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/thuy-dien-trung-quoc-tai-hoa-cho-luu-vuc-va-viet-nam-3305255/

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s