Chuyện lúa vụ 3 ở Đồng bằng sông Cửu Long

Lê Anh Tuấn – 2014( 25/01/2018)
Screen Shot 2018-01-27 at 6.43.52 PM
(ortals.iucn) Câu chuyện lúa vụ ba ở Đồng bằng sông Cửu Long là đề tài tranh luận đã vài năm nay bởi không chỉ các nhà khoa học, mà cả cộng đồng và các cơ quan thông tin đại chúng.TS Lê Anh Tuấn sẽ đem đến một cái nhìn ở khía cạnh chi phí và lợi ích của việc trồng lúa vụ ba. Liệu có người dân đồng bằng có thật sự muốn và cần phải gồng mình lên cho danh hiệu quốc gia xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới, và còn nữa, đó là những hệ lụy mà các hệ sinh thái tự nhiên của đồng bằng mà các sinh kế của người dân phụ thuộc vào sẽ phải chịu dưới sức ép thâm canh cây lúa.

Lúa vụ 3 là cách gọi quen thuộc của cán bộ và nông dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) để chỉ việc gia tăng thời vụ canh tác lúa ngoài hai vụ chính là vụ lúa Hè Thu (khoảng từ tháng 4 đến tháng 7) và vụ lúa Đông Xuân (thông thường từ tháng 12 đến tháng 2).

Lúa vụ 3 thường rơi vào vụ Thu Đông (từ tháng 8 đến tháng 11), một số nơi lại là vụ Xuân Hè (tháng 2 đến tháng 5) nhưng với diện tích ít hơn.

Lúa Thu Đông vụ 3 là thời kỳ nước lũ lên cao và gây ngập nhiều vùng trũng, đặc biệt là vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và một số vùng nằm giữa sông Tiền và sông Hậu. Muốn canh tác lúa vụ 3 ở các vùng ngập lũ, các địa phương thường phải làm đê bao triệt để khép kín để lúa tránh bị ngập nước.

Còn nếu canh tác lúa vụ 3 Xuân Hè thì lượng nước bơm tưới phải rất lớn vì đây là thời điểm khô hạn cao và xâm nhập mặn lớn ở ĐBSCL.

Phương thức canh tác lúa vụ 3 đã hình thành từ những năm giữa của thập niên 1980 tại những vùng có hệ thống thủy nông và đê bao tương đối chủ động với giống lúa ngắn ngày (105 ‐ 110 ngày) hoặc cực ngắn ngày (như các giống OMCS, thời gian trồng 95 ‐ 105 ngày).

Thậm chí, có nơi như Long An, Tiền Giang đã làm 3 năm 7 vụ, hay tại vùng Ô Môn đã từng làm 3 năm 8 vụ. Dần dần, nhiều tỉnh và cả Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã khuyến khích mở rộng diện tích lúa vụ 3 như một giải pháp gia tăng nhanh sản lượng lúa, nhằm đưa Việt Nam thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng hàng nhất nhì thế giới.

Đỉnh điểm canh tác lúa vụ 3 là làm diện tích canh tác lúa ở ĐBSCL vọt lên xấp xỉ 3,8 triệu ha lúa vào niên vụ 2009 ‐ 2010.

Tuy nhiên, sau một số năm phát triển lúa 3 nhiều nhược điểm và hệ lụy cả ba yếu tố kinh tế ‐ môi trường ‐ xã hội của phương thức canh tác này đã dần dần bộc lộ, đặc biệt từ sau trận lũ năm 2011 và tình trạng giá lúa tụt giảm thê thảm năm 2013 khiến nhiều nông dân vùng đồng bằng điêu đứng vì lỗ quá nặng.

Về mặt kinh tế, gia tăng thời vụ canh tác sẽ làm gia tăng sản lượng lương thực, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, dẫn đến gia tăng số lượng lúa xuất khẩu và có lẽ sẽ có lập luận là đất nước sẽ có thêm nguồn thu ngoại tệ từ việc bán lúa cho nước ngoài và người nông dân có thêm thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Điều này, có một phần đúng nhưng thật ra phần lời từ việc gia tăng sản lượng lúa chính là vẫn rơi vào túi các doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo và các công ty mua bán phân bón, thuốc nông dược.

Người nông dân, thực tế, vẫn nghèo, thời gian lao động trên đồng ruộng gia tăng lên mà thu nhập không gia tăng tương xứng.

Kỳ vọng người trồng lúa lãi ít nhất 30% trong một thời vụ canh tác, nói chung, xem ra là điều thiếu thực tế. Bài toán kinh tế nông nghiệp tính cho canh tác lúa vụ 3 đã cố tình bỏ qua rất nhiều yếu tố liên quan đến giá thành.

Thực tế, do tăng vụ liên tục và bị đê bao khống chế khiến đất đai bị vắt kiệt dinh dưỡng, sâu bệnh luôn luôn có môi trường tồn tại và phát triển nên người nông dân phải liên tục gia tăng khối lượng phân hóa học và thuốc trừ sâu.

Muốn chủ động kiểm soát nước trong đê bao, các máy bơm phải gia tăng thời gian hoạt động khiến chi phí thủy lợi tăng lên. Bài toán kinh tế không cộng thêm chi phí thời gian lao động gia tăng của người nông dân cho việc đắp đê, cho công sức huy động chống lũ, cho việc chăm sóc lúa.

Kinh nghiệm cho thấy những vùng canh tác lúa vụ 3 càng dài thì năng suất cây lúa càng giảm, mặc dầu chi phí bón phân và phun thuốc trừ sâu tăng. Lúa nhiều nhưng giá thành giảm trong khi đó mọi dịch vụ liên quan như công lao động, xăng dầu, điện, dịch vụ ngoài xã hội liên tục tăng.

Nếu xem xét trên diện rộng hơn ở trên toàn đồng bằng, thiệt hại về kinh tế còn lớn hơn rất nhiều chứ không ở quy mô nông hộ.

Việc gia tăng diện tích đê bao ở các vùng trũng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười khiến nước lũ chảy mạnh hơn gây xói lở mạnh, diện tích và thời gian ngập ở các tỉnh phía dưới hạ lưu cũng tăng theo, nhiều cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, công trình dân dụng mau xuống cấp, một số hoạt động xã hội bị ngưng trệ khi ngập lũ tăng. Tất cả thiệt hại kinh tế này, khó có thể kiểm kê hết nhưng chắc chắn là con số không nhỏ.

Về mặt môi trường, việc gia tăng lúa vụ 3 làm hệ sinh thái đồng ruộng suy giảm rõ rệt, làm lúa liên tục có nghĩa là trên đất trồng chỉ còn độc canh cây lúa là chủ lực, tính đa dạng sinh học dần dần trở nên nghèo nàn.

Do việc gia tăng khối lượng sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu vào ruộng lúa khiến môi trường đất, nước và sinh vật (cả con người) bị đầu độc. Tôm cá trên sông rạch ngày càng ít đi, nhiều loài động vật hoang dã gần như biến mất, đất đai dần dần bị chai, bạc màu.

Nguồn nước bị cầm tù trong đê bao bị ô nhiễm và nhiều bệnh liên quan đến nguồn nước gia tăng. Sau mỗi mùa thu hoạch, rơm rạ ngoài đồng không thể phân hủy kịp cho vụ mùa sắp đến nên người trồng lúa chọn giải pháp là đốt đi khiến ô nhiễm khói gia tăng, vi sinh vật trong đất bị chết và đồng ruộng mất đi một nguồn phân bón hữu cơ quí giá mà người nông dân buộc phải thay thế bằng một lượng phân bón hóa học, lượng phân bón hóa học này hầu hết là phải bỏ ngoại tệ ra để nhập khẩu.

Về mặt xã hội, bức tranh nông thôn đã có nhiều thay đổi. Nông dân làm việc nhiều hơn, ít có điều kiện nghỉ ngơi và phải đối đầu với nhiều vấn đề về giá cả, thị trường ngày càng phức tạp.

Bây giờ, về nông thôn khó ai còn nghe được câu hò đối đáp trong ngày mùa vì mọi người lúc nào cũng tất bật gặt hái, phơi sấy, lo âu giá lúa, rồi đắp bờ, chống lũ chuẩn bị ngay cho vụ mùa kế cận.

Hình 4.1 Đồng lúa ba vụ ở vùng cao của Đồng bằng Sông Cửu Long
Trích: Chuyện nước và con người ở Đồng bằng Sông cửu long
Tham khảo:
https://portals.iucn.org/library/sites/library/files/documents/2014-091.pdf

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s