Kinh tế chính trị học của tham nhũng

Nguyên Lam – Nguyễn Xuân Nghĩa 09/08/2017
(RFA) + Tham nhũng từ chính sách hay luật lệ của hệ thống công quyền
Trước hết, tham nhũng là hiện tượng xảy ra trong vùng tiếp cận giữa kinh tế và chính trị: Dùng các đặc quyền về chính trị để kiếm các đặc lợi về kinh tế thì đấy là tham nhũng.Đặc tính của mọi chính quyền là khả năng hay thẩm quyền làm luật nhằm chi phối người khác. Khi ấy, từng bước ta nên hỏi làm luật để làm gì và có lợi cho những ai?

Mọi chính quyền đều có hướng chung là ban hành luật lệ nhằm bảo vệ quyền lợi cho một thành phần xã hội hay cho dân chúng có khả năng ủng hộ chính quyền.

Trong các doanh nghiệp họ lấy quyết định kinh doanh có lợi cho thành phần cổ đông chiếm đa số và chịu sự phán xét của thị trường qua giá cả. Khi đa số được tham gia vào tiến trình quyết định thì hiện tượng bất công hay bất lương thường khó xảy ra.

Trong xã hội dân chủ thì kết quả bầu cử cũng tương tự như sự phán xét của dư luận hay của thị trường và dẫn tới thay đổi về nhân sự, hay về các chính sách hay luật.

Trong xã hội độc tài, quyền lực tập trung vào tay một thiểu số. Nếu thiểu số ấy lại có quyền ban hành luật lệ và quy định về ngân hàng thì hệ thống ngân hàng trở thành trung tâm thu hút tài nguyên cho các đại gia và dẫn tới đại án lâu lâu lại bùng nổ.

Các chiến dịch gọi là diệt trừ tham nhũng thường xuất hiện một cách định kỳ rồi đâu lại vào đấy: nhà tù mở ra cho một số cán bộ ngân hàng bị tội sai phạm, nhưng cơ hội cũng mở ra cho nhiều đại gia mới, bỗng dưng trở thành tỷ phú rất nhanh.

Và chẳng nên ngạc nhiên khi xã hội xuất hiện các đại gia có dinh cơ nguy nga đồ sộ còn hơn cả chế độ phong kiến xa xưa. Đấy là nơi thiểu số có thể làm luật và sửa luật mà đa số không có quyền phàn nàn.

+ Tham nhũng từ sử dụng tiền thuế của dân
Chế độ dân chủ là nơi chính quyền do dân bầu lên được lấy quyết định về ngân sách là thu tiền từ đâu và dùng vào việc gì với sự phán xét định kỳ của người dân qua lá phiếu.

Ở chế độ dân chủ cho phép người dân than vãn và phản đối chính sách thuế khóa và làm nhà nước phải đảm bảo việc sản xuất phẩm vật cho tư nhân theo quy luật thị trường, tức là nâng cao hiệu năng sản xuất của tư doanh để tạo ra một cái bánh to hơn cho mọi người và tranh luận chính trị xảy ra là khi người ta nói đến việc chia phần bánh cho những ai.

Trường hợp lạm dụng vẫn có thể xảy ra khi tiền thuế của dân được dùng vào việc mua phiếu mà người ta gọi là tái phân lợi tức. Nhưng sự lạm dụng ấy khó kéo dài khi ngân sách bị bội chi, và hệ thống tài chính bị khủng hoảng.

Ở chế độ độc tài thì tham nhũng được định chế, và bình thường hóa nhờ hệ thống luật lệ.
Một số thiểu số có toàn quyền làm luật cho tay chân được hưởng. Khi có đại án về tham nhũng hay khủng hoảng về ngân hàng thì đấy là lúc nội bộ của thiểu số này tranh đoạt quyền lực để chia nhau quyền lợi cho giai đoạn tới.

Nạm tham nhũng và chế độ độc tài có mối quan hệ khắng khít. Có điều nghịch lý là tham nhũng xảy ra không phải vì thiếu luật mà vì người dân bị ràng buộc bởi quá nhiều luật lệ trong khi thiểu số vẫn thừa khả năng luồn lách để trục lợi.

Vấn đề tham nhũng không nằm ở hệ thống luật lệ, mà thuộc về chế độ chính trị có quyền ban hành luật lệ mà lại không kiểm soát nổi một thiểu số có chức quyền?

Trích tham khảo:
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/corruption-explained-nxn-08092017080443.html

Advertisements

Chính trị cũng chỉ là kinh tế

Nguyễn Xuân Nghĩa 07/09/2016
RFA + Vai trò của quần chúng
Chúng ta nên thấy rằng không cá nhân nào có thể lãnh đạo một mình. Lãnh tụ nào cũng đều phải cần quần chúng.

Quần chúng này có thể là người bỏ phiếu, là cử tri đông đảo của một xứ dân chủ, hay đảng viên của một chế độ độc tài. Nhưng đấy là quần chúng biểu hiện mà chưa hẳn là có thực quyền.

Bên trong khối quần chúng này, chỉ một thành phần mới có ảnh hưởng hơn cả, các Trung ương Ủy viên trong đảng độc quyền hay thành phần nòng cốt có quyền lợi gắn bó với lãnh tụ.

Lãnh tụ cần họ và họ cần lãnh tụ để bảo vệ quyền lợi của mình. Ở trên, chỉ có vài phần trăm gọi là nòng cốt mới thật sự có quyền. Trên cùng là Thường vụ Bộ Chính trị hay các đại gia của doanh trường và chính trường trong một xứ dân chủ.

Tính toán chính trị của thiểu số trên thượng tầng là phải cầm quyền và muốn như vậy, phải củng cố quyền lợi cho thành phần nòng cốt của họ ở chung quanh. Nhiều khi các chính sách kinh tế gọi là “ích quốc lợi dân” về hình thức chỉ là sự vun vén quyền lợi hay chia phần bánh cho thành phần cối lõi của mình.

+ Ràng buộc chính trị và kinh tế:
Tôi nghĩ thực tế của kinh tế và chính trị nó khác cái nhìn lạc quan thánh thiện của chúng ta và nếu hiểu được thực tế đó thì mình mới tránh được nạn lạm quyền, tham nhũng hay độc tài.

Lãnh đạo một phong trào lý tưởng mà không có tiền gây dựng cơ sở, đào tạo cảm tình viên hay cán bộ và quảng bá chủ trương thì chẳng thể có quần chúng. Có quần chúng rồi, khi đấu tranh hay tranh cử, lãnh tụ cũng còn cần một bộ phận cốt lõi giúp mình thành công, và nhất là sau khi thành công là nắm quyền thì bộ phận cốt lõi này lại không bước qua bên kia.

Vì vậy, hệ thống chính trị nào cũng phải tìm ra sự ràng buộc, mà sự ràng buộc thực tế nhất vẫn là kinh tế.

Khả năng diễn giải thực tế phũ phàng thành chủ trương thánh thiện là trách nhiệm của bộ phận cốt lõi này, và dân trí càng cao thì tình trạng ngoa ngụy nhập nhằng đó càng khó.

Vì vậy, và đây mới là chuyện chính mà chúng ta cần chú ý: các lãnh tụ độc tài và chuyên quyền có thể tồn tại lâu hơn giới lãnh đạo dân chủ vì một nước dân chủ vẫn thường xuyên có bầu cử.

+ Vai trò của Bầu cử:
Không một ai lầm lẫn về bản chất của loại bầu cử mà ai cũng biết trước kết quả, kể cả lãnh tụ độc tài, vì là đảng cử cho dân bầu. Nhưng mục tiêu của bầu cử không nhằm đưa lên một tầng lớp lãnh đạo mới.

Đấy là hệ thống lãnh đạo cũ, sẽ nhân danh kết quả gọi là bầu cử mà sàng lọc lại thành phần cốt lõi và chia chác lại những quyền lợi và ràng buộc để củng cố vị trí của lãnh đạo.

Con người ta có thể nói điểu thiện mà vẫn làm việc ác. Chế độ dân chủ có khả năng ngăn ngừa được cái ác đó vì mở rộng cơ sở tham gia cho quần chúng đông đảo hơn, đó là thành phần cử tri. Dù thành phần quần chúng biểu hiện này thiếu thực quyền thì họ vẫn trực tiếp chi phối được thành phần có ảnh hưởng ở trên.

Bước kế tiếp, chế độ dân chủ cũng đặt ra quy luật bầu cử và nhiệm kỳ lãnh đạo khiến cho thành phần ta gọi là có ảnh hưởng phải thường xuyên tính toán lại, vài ba năm là lại có thể đổi ý, nếu không thì lãnh tụ sẽ thất cử!

Trên cùng, qua từng đợt bầu cử và thay đổi chính sách, thành phần gọi là cốt lõi cũng thấy có đổi thay vì quyền lợi mà hết gắn bó với lãnh tụ ở trên. Những chuyển dịch ấy lại được truyền thông báo chí theo dõi và tường thuật, không nhất thiết là hợp ý lãnh tụ ở trên cùng.

Nhờ vậy mà việc ban phát quyền lợi kinh tế không thu hẹp vào một thiểu số mà mở rộng hơn cho quần chúng ở dưới. Đấy mới là lý do vì sao nền dân chủ chưa hoàn hảo và đầy tỳ vết vẫn là hệ thống chính trị ít tệ nhất và nhờ đó tìm ra giải pháp kinh tế tốt đẹp hơn cho đa số./.

Trích tham khảo:
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/EconomicForum/politics-of-economic-choices-nxn-09072016105916.html

Trưng thu tài nguyên quốc gia


Nguyên Lam- Nguyễn Xuân Nghĩa 16/06/2017
RFA- Tại Việt Nam, một đề tài đang làm cả nước tranh luận: Đó là yêu cầu nâng cấp phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất có thể đòi hỏi việc lấy lại sân golf 36 lỗ nằm trong sân bay. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này từ giác độ kinh tế chính trị học…

Nhu cầu mở mang và nâng cấp sân bay là điều khá bình thường. Tuy nhiên tôi có cái nhìn bi quan về việc sung dụng hay phân phối tài nguyên quốc gia cho yêu cầu chung.

Trong một chế độ dân chủ, người dân có quyền tự do bầu lên đại biểu thay họ giải quyết việc nước nhưng trên cơ sở của hệ thống luật lệ cũng do giới dân cử hay các đại biểu của dân đề ra. Tiến trình chọn người, soạn luật và áp dụng được công khai hóa.

Dù vậy, giới dân cử trong chính quyền vẫn phải nghĩ đến việc duy trì quyền lực, nôm na là tái đắc cử, nên vì thế, quyết định sung dụng tài nguyên quốc gia có thể nhắm vào việc ban phát lợi ích cho thành phần cử tri của họ.

Chẳng hạn, cuộc tranh luận về chính sách thuế vụ có thể là biểu hiện của lối tính toán đó, như lấy của thiểu số giàu có ban phát cho đa số dân nghèo, miễn sao thuế suất quá cao không giết luôn con gà đẻ trứng vàng là làm giới có tiền hết muốn đầu tư khiến kinh tế sa sút và số thu về thuế khóa bị giảm.

Tuy nhiên, lối tính toán xin tạm gọi là “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” vẫn bị sự phán đoán của thị trường và công chúng, cho nên việc công khai hóa hệ thống công chi thu quốc gia, nôm na là ngân sách, có thể hạn chế cái nạn này.

Một số chế độ đã thấy lãnh đạo lấy công sản phục vụ tư lợi nên họ có dinh cơ nguy nga trên đất đai vốn là tài sản của toàn dân.

Việt Nam định chế hóa việc trưng thu đó ngay từ Hiến pháp khi quy định rằng “đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân”, nhưng lại “do nhà nước thống nhất quản lý”. Việc quản lý nhân danh nào hiện đại hóa, đô thị hóa hay phát triển hạ tầng cơ sở.

Khi trưng thu đất hoặc mua quyền sử dụng đất của nông dân với giá bèo rồi nâng cấp thành đất công nghiệp, hoặc chia cho dự án làm sân cù thì chúng ta có hiện tượng trái ngược với chủ trương vì là “lấy của người nghèo trao cho nhà giàu”.

Hiện tượng ấy có xảy ra trong chế độ dân chủ nhưng khó hơn vì mọi việc đều được công khai hóa và giới dân cử có tà ý “dĩ công vi tư” thì sẽ thất cử nhờ báo chí.

Các nhà cầm quyền đều có hướng trưng thu tài nguyên công cộng cho nhu cầu tư lợi. Tuy nhiên trong chế độ dân chủ, việc trưng thu đó nhắm vào mục tiêu phân phối quyền lợi cho thành phần cử tri của mình, nhưng bị hạn chế vì luật pháp công minh và quyền phán xét của người dân, của đảng đối lập và của báo chí độc lập.

Nếu thật sự muốn làm tốt việc trưng thu tài nguyên quốc gia thì nên công khai hóa việc trưng thu và phân phối tài sản quốc dân cho Quốc hội và báo chí có thực quyền phán xét. Chuyện này thật ra đã thành cấp bách rồi vì người dân Việt Nam ngày nay có nhiều thông tin hơn trước./.

Ảnh: Sân Golf bên trong sân bay Tân Sơn Nhất.
Trích tham khảo:
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/EconomicForum/resource-confiscations-nxn-06162017071011.html

Xẻ thịt tài nguyên quốc gia

Mỹ Lan 16/04/2018

RFA- Đỉnh Fansipan từ lâu là đích đến cho những du khách ưa thích sự mạo hiểm, muốn thử sức khám phá và chinh phục ngọn núi vốn được mệnh danh là “nóc nhà Đông Dương”.

Thế nhưng, kể từ khi tập đoàn SunGroup xẻ núi xây dựng và khai thác hệ thống cáp treo đưa du khách đi thẳng từ thị xã Sapa lên tận đỉnh Fansipan vào tháng 02/2016 thì ngọn núi này đã trở thành tài sản kinh doanh riêng của một trong những tập đoàn bất động sản lớn nhất của Việt Nam hiện nay.

Cũng tương tự đối với những bờ biển được cả thế giới công nhận là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh như Mỹ Khê (Đà Nẵng), Bãi Dài, Bãi Sao (Phú Quốc) hay Cửa Đại (Hội An) … nếu như trước đây người dân có thể tự do đánh bắt hải sản hoặc thoải mái bơi lội trên những bãi biển này thì giờ đây, phần lớn diện tích nói trên đã được dành cho các tập đoàn lớn như VinGroup, FLC, SunGroup, Bim Group khai thác kinh doanh sân golf, resort cao cấp…

//—

Những tài nguyên thiên nhiên là những tài sản công mà tất cả mọi người đều có thể được hưởng, được tiếp cận. Bây giờ họ bán cho tư nhân và họ quây lại thành tài sản của riêng họ và như vậy là người dân bị từ chối quyền được tiếp cận – Tiến sĩ Nguyễn Quang A

—//

Bình luận về điều này, từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng đây là một hiện trạng hết sức nhức nhối vì người ta đã biến cái công sản vào tay tư nhân.

“Những tài nguyên thiên nhiên là những tài sản công mà tất cả mọi người đều có thể được hưởng, được tiếp cận. Bây giờ họ bán cho tư nhân và họ quây lại thành tài sản của riêng họ và như vậy là người dân bị từ chối quyền được tiếp cận”

Cùng quan điểm trên, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho rằng việc kinh doanh, khai thác những địa điểm nói trên còn phá nát cảnh quan cũng như gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường xung quanh. Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết:

“Họ phá nát đi những nơi đó, họ đưa những công trình xây dựng vào làm mất đi cái vẻ hoang sơ của Bà Nà hay Fansipan. Riêng cái Bà Nà ngày trước chưa có cáp treo thì có con đường đi lên nhưng bây giờ, họ chiếm và cấm không cho người dân đi qua con đường đó nữa.

Còn đỉnh Fansipan thì cái quan trọng là họ phá hư cái cảnh quan, cái đỉnh Fansipan bây giờ mà đi lên được cái đỉnh đó thì không còn ý nghĩa nữa”

Theo nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, đã có rất nhiều dự án mà vì lợi ích trước mắt mà các chủ đầu tư đã ra sức bào mòn, phá hoại tài nguyên quốc gia bất chấp những hệ quả mà người dân phải gánh chịu.

Dư luận đã từng lên án dự án Quần thể công trình du lịch văn hoá dịch vụ cáp treo, vui chơi giải trí, khách sạn Fansipan Sa Pa phá nát sinh cảnh vườn quốc gia Hoàng Liên, chiếm nơi ăn chốn ở của không biết bao nhiêu người dân, hay như dự án Công viên đại dương Hạ Long xâm phạm, san lấp hàng trăm hecta vùng biển thuộc vùng đệm của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.

Cũng tương tự SunGroup, tập đoàn FLC bị lên án ngang nhiên xóa sổ rừng phòng hộ ven biển Sầm Sơn để xây dựng sân golf, resort 5 sao, xua đuổi và cấm người dân xunh quanh nơi xây resort được cào ngao, đánh cá, cướp đi kế sinh nhai của không biết bao nhiêu gia đình sống nhờ nghề bám biển từ nhiều thế hệ…

//—-

Họ gọi là khu du lịch sinh thái nhưng thực chất nó là khu đô thị sinh thái, họ đuổi hết dân đi rồi quy hoạch thành khu đô thị rồi bán nền lại với giá cao trong khi đó đền bù lại cho người dân với mức giá nông nghiệp rất rẻ, khoảng 15 ngàn đồng/m còn bây giờ họ bán lại với giá từ 50 cho đến cả trăm triệu đồng mỗi mét vuông, thế là lời lắm rồi.

Họ lấy hết đất đai, nhà thờ, chùa chiền bao nhiêu đời để làm khu đô thị mới, người dân sống bằng nghề nông nghiệp bây giờ không biết làm cái gì để người ta sinh sống – Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh

—//

Rất nhiều trong số những dự án này ban đầu được dựng lên với danh nghĩa góp phần bảo tồn và phát triển kinh tế du lịch địa phương. Tuy nhiên trên thực tế nhà đầu tư đã chuyển đổi mục đích sử dụng vào các dự án bất động sản nhằm thu những khoản lợi nhuận khổng lồ. Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nói tiếp:

“Ví dụ như khu Hoà Quý, Hoà Xuân ở Đà Nẵng, họ gọi là khu du lịch sinh thái nhưng thực chất nó là khu đô thị sinh thái, họ đuổi hết dân đi rồi quy hoạch thành khu đô thị rồi bán nền lại với giá cao trong khi đó đền bù lại cho người dân với mức giá nông nghiệp rất rẻ, khoảng 15 ngàn đồng/m còn bây giờ họ bán lại với giá từ 50 cho đến cả trăm triệu đồng mỗi mét vuông, thế là lời lắm rồi.

Họ lấy hết đất đai, nhà thờ, chùa chiền bao nhiêu đời để làm khu đô thị mới, người dân sống bằng nghề nông nghiệp bây giờ không biết làm cái gì để người ta sinh sống”

Trước câu hỏi vì sao những vụ việc gây bức xúc và thách thức dư luận như vậy lại không bị phanh phui và xử phạt theo qui định của luật pháp Việt Nam, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho rằng đã có âm mưu lợi ích nhóm trong những dự án nói trên:

“Đã có sự lợi ích nhóm và cấu kết với nhau giữa các tập đoàn và chính quyền. Điều đó là chuyện đương nhiên rồi, nếu không có sự cấu kết đó thì doanh nghiệp nó cũng khó làm ăn được, khó mua được những dự án với giá rẻ để sau này bán ra với giá cao.

Và khi mà có sự cấu kết đó thì lợi lộc vào tay những quan chức và các tập đoàn còn thiệt hại là thuộc về người dân sống trên mảnh đất đó. Còn thiệt hại đối với xã hội đó là một số những tài nguyên, cảnh quan như biển như rừng thì bị bán mất hết đi”

Trước hiện tượng kinh doanh chộp giật, bất chấp những hậu quả có thể gây ra đối với môi trường và phát triển bền vững như vậy của các doanh nghiệp, tiến sĩ Nguyễn Quang A đề xuất người dân bị ảnh hưởng cũng như người dân ở khắp mọi nơi đều phải lên tiếng thì may ra chính quyền và các doanh nghiệp mới có thể hạn chế được việc khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên của đất nước.

Ông cũng cho rằng việc một nhà nước được gọi là “của dân, do dân và vì dân” nhưng lại sử dụng tài sản công để phục vụ cho tầng lớp tư bản là một sự cấu kết lợi ích rõ ràng./.

Tham khảo:

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/chinh-phu-va-cac-nhom-loi-ich-xe-thit-tai-nguyen-quoc-gia-04162018144951.html

Khai thác cát ở đồng bằng sông Cửu Long


Nhóm phóng viên 09/10/2015
RFA – Trong thời gian mười năm trở lại đây, nạn khai thác cát hoành hành đã nhanh chóng biến các dòng sông vốn hiền hòa và trữ tình ở khu vực Tây Nam Bộ trở nên dữ tợn, nhiều gia đình điêu đứng vì xói lở.
Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi sự đều trở nên hỗn loạn bởi nạn khai thác cát có phép và nạn khai thác cát trộm. Nhiều hecta đất trên bờ bị đổ xuống sông mang theo nhà cửa, ruộng vườn chỉ sau một đêm đều do nạn khai thác cát mà ra.+ Khai thác cát có phép
Một người dân ở cù lao Bình Thủy, xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh, An Giang, tên Cung chia sẻ: “Ở vùng này thì bị cấm tuyệt đối nên không khai khác được nhưng mà nó khai thác lậu, nó khai thác lén vì lợi nhuận cao quá.

Như nó hút một xà lan là nó lời từ 7 triệu đến 10 triệu, một ngày có thể khai thác 2 xà lan. Nó khai thác bằng máy hút, nó hút rồi nó đổ lên xà lan. Nó hút ở giữa sông nên bị bọng hai bên hông, dần dần nó sụt xuống.”

Theo ông Cung, hiện nay, cù lao Bình Thủy đã bị sạt lở nặng nề, mặc dù người dân cố gắng gìn giữ, canh từng giờ từng phút để chống lại những kẻ khai thác cát quá gần bờ nhưng điều này không cứu được hàng chục hecta đất bị sạt lở do nạn hút cát.

Vấn đề đáng bàn ở đây chính là những kẻ hút cát, gây tổn hại cho người dân cù lao Bình Thủy không hề có bất cứ động thái nào cho thấy họ chịu trách nhiệm về sự tổn thất của bà con.

Không những thế, họ càng tiếp tục khai thác mạnh tay hơn và gần bờ hơn, nếu có cơ hội thì họ tiến sát bờ để khai thác cát. Và mỗi một nhát múc cát của họ cũng đồng nghĩa với cái hố tử thần có thể lôi tuộc một căn nhà hay một khu vườn nào đó xuống sông càng thêm rộng ra, sâu hoắm.

Bởi vì họ có giấy phép khai thác cát, như công ty cố phần Xáng cát An Giang hay công ty trách nhiệm hữu hạn MTV Tân Lê Quang đều được nhà nước cấp phép khai thác cát theo chỉ tiêu mỗi năm vài trăm trăm ngàn mét khối cát. Và một khi nhà nước cấp phép, họ có đóng thuế thì người dân không thể nào ngăn cản họ được.

Tuy nhiên, thay vì khai thác đúng như trong giấy phép thì hầu hết các công ty khai thác cát đều khai thác gian lận, thay vì khai thác với cự ly cách bờ ít nhất là 200m, các công ty này đã nhiều lần đưa xáng cạp và sà lan vào sát mép cù lao để khai thác.

Bà con cũng nhiều lần nhờ nhà cầm quyền địa phương can thiệp nhằm đảm bảo đời sống của mình được an toàn nhưng hầu như mọi đơn thư kêu cứu của bà con đều không có hồi đáp.

Mãi cho đến khi nhiều ngôi nhà bị kéo tuột xuống sông Hậu, nhiều khu vườn mất dấu, bà con phải tự đứng lên đấu tranh bằng cách bơi xuồng ra ngăn cản các công ty này khai thác cát gần bờ. Nhưng đây chỉ là giải pháp đối phó tình thế, mối nguy vẫn treo lơ lửng trên cù lao Bình Thủy.

Ông Cung cho rằng rõ ràng ở đây có một sự bất minh trong quản lý nhà nước, những cơ quan có chức năng trong vấn đề khai thác cát như cơ quan tài nguyên và môi trường đã không làm việc đúng trách nhiệm của họ, cố tình bỏ lơ để các doanh nghiệp tác oai tác quái.

Và sâu xa hơn, ông Cung cho rằng chắc chắn các công ty khai thác đã đi đêm với cán bộ tài nguyên và môi trường, đã chung chi đầy đủ cho cán bộ của cơ quan này nên họ làm thinh, bỏ mặc bà con chịu khổ và họ lượm tiền phía công ty. Đó là chưa muốn nói đến chuyện họ đã mượn tay bà con nhân dân trên cù lao Bình Thủy để làm thay việc cho họ.

Nghĩa là thay vì nghĩ đến mối nguy sạt lở của bà con, các cán bộ tài nguyên môi trường đã ăn tiền phía công ty khai thác, để họ thả sức múc cát, hút cát gần sát cù lao Bình Thủy, nơi có mỏ cát xếp vào hàng tốt nhất khu vực Tây Nam Bộ.

Sau đó, họ mượn tay bà con nhân dân cù lao Bình Thủy để điều tiết việc hút cát thay vì họ phải đứng ra làm việc này.

Nhìn chung, giữa cán bộ tài nguyên môi trường và những chủ khai thác cát có mối quan hệ cùng một giuộc, cùng ăn chia lợi lộc, miễn sao bà con không lên tiếng, khi nào bà con lên tiếng phản đối thì nhóm cán bộ này lại diễn một vở cải lương truy quét kẻ khai thác cát để xoa dịu bà con.

Mọi chuyện cứ như thế lòng vòng cho đến khi cát không còn nữa, bà con mất nhà, mất vườn tược thì ngửa cổ lên trời mà kêu đau.

+ Nạn sa tặc
Một người nông dân tên Lợi, ở xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, chia sẻ thêm: “Một dòng sông nó chảy, họ hút cát thì dưới đáy nó sẽ bào dần, nó lấy từ hai bên mé nó bù xuống. Có khi nó sụt hai trăm, ba trăm mét, có khi năm trăm mét.

Thiệt hại nhà cửa người ta dữ lắm, trong vòng 5 đến 10 phút là sụt xuống chỉ còn thấy cái nóc nhà thôi. Có khi cái nhà của mình nó bị sụt hơn nửa cái nhà, còn lại bị gãy giữa vậy, bỏ luôn. Long Xuyên, Cần Thơ, Hậu Giang gì cũng thế luôn.”

Theo ông Lợi, không riêng gì sông Tiền hay sông Hậu bị nạn khai thác cát tùng xẻo, gây thương tích mà hầu hết các con sông trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đều bị nạn khai thác cát hoành hành.

Bởi khu vực đồng bằng Sông Cửu Long là cái vựa cát của thời đại sốt địa ốc và dịch vụ xây dựng địa ốc cho cả miền Nam, kể cả Sài Gòn và các tỉnh lân cận phía Nam.

Chính vì nguồn cát tương đối sạch, hạt lớn, không bị nhiễm mặn ở đây mà các mũi dùi khai thác từ có phép cho đến khai thác trộm đều nhắm vào đây.

Nếu như kẻ khai thác có phép đã khai thác gian lận, gây nguy hại đến đời sống hai bên bờ sông bao nhiêu thì những kẻ khai thác trộm cát lại bất chấp mối nguy của bà con, miễn sao họ lấy được cát, thu được lợi là họ làm.

Và cũng bởi cơn sốt xây dựng, sốt nhà đất cách đây vài năm đã ấn định giá cát cao ngất ngưỡng nên dịch vụ khai thác cát vốn dĩ là loại hình siêu lợi nhuận.

Một chiếc tàu nhỏ chở chừng một trăm khối cát đi từ miền Tây lên Sài Gòn, sau khi chung chi cho cảnh sát giao thông đường thủy, chi phí xăng cộ và các đoàn kiểm tra nhà nước đột xuất, chủ tàu kiếm được ít nhất cũng mười triệu đồng.

Thời gian cho một chuyến tàu chở các đi và về chưa đầy ba ngày. Như vậy, chu kì ba ngày thu vào mười triệu đồng đã hấp dẫn các tàu hút cát trộm liên tục xoay vòng bởi mỗi tháng kiếm được ngót nghét trăm triệu đồng không hề nhỏ chút nào đối với người dân nơi đây.

Hiện tại, nạn khai thác cát có phép nhà nước và khai thác trộm cát đã nhanh chóng biến các con sông ở đồng bằng Sông Cửu Long trở nên dữ tợn, thay đổi dòng chảy và có thể nuốt bất kỳ khu vườn, căn nhà nào ven bờ xuống dòng chảy cuồn cuộn của nó.

Đây không còn là chuyện kinh tế hay xã hội nữa, mà là vấn đề an ninh, đời sống của người dân Tây Nam Bộ.

Ảnh: Khai thác cát trên sông
Tham khảo:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/reportfromvn/sand-exploitation-mekong-delta-10092015120232.html

Lòng sông ngày càng sâu có tác hại gì?

Gia Minh 23/08/2016

RFA -Hai dòng sông chính tại Đồng bằng Sông Cửu Long được nhận định đang ngày càng sâu thêm một cách bất thường.

+ Nguyên nhân

Hai nhánh sông Tiền và sông Hậu ở hạ lưu dòng Mê kong với chiều dài mỗi nhánh trên 200 kilomet hiện có hiện tượng bất thường là lòng sông không được bồi lắng mà trái lại kể từ năm 2008 đến nay đang sâu thêm từ 5 đến 7 thước.

Ông Trần Đức Cường, phó giám đốc Ủy ban Sông Mê kong Việt Nam vào ngày 17 tháng 8 vừa qua nói với hãng thông tấn Đức DPA tình trạng lòng sông trở nên sâu hơn sẽ gây nên những tác động bất lợi gồm xói lở ven bờ, cũng như không thể đưa phù sa vào đồng ruộng được; từ đó khiến năng suất lúa, cây trồng bị giảm sút.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lòng sông mỗi lúc một sâu thêm gây hại như thế được nhận định là do hoạt động khai thác cát trên sông một cách bừa bãi cũng như do các đập thủy điện dựng lên trên dòng chính Mê kong gây nên.

//—

Theo nghiên cứu của mấy giáo sư người Pháp thì Sông Mê kong trong 20 năm qua thì mất khoảng 200 triệu tấn nên lòng sông sâu trung bình khoảng 1-3 mét. Đó là tính trung bình chứ nhiều nơi có những hố sâu lắm.

– Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện

—//

Mạng báo Tuổi Trẻ đưa ra thống kê cho thấy trong vòng 10 năm từ 1998 đến 2008, tổng lượng vật liệu đáy hai con sông Tiền và sông Hậu bị mất tương ứng là 90 triệu tấn và 110 triệu tấn.

Mức độ gia tăng khai thác cát lòng sông trong những năm sau đó tạo ra nhiều vùng lõm có nơi sâu đến 45 thước. Nhà sinh thái Đồng bằng Sông Cửu Long Nguyễn Hữu Thiện cho rằng những con đập thủy điện trên dòng chính sông Mê kong làm giảm đến 50% lượng phù sa mịn về đồng bằng Sông Cửu Long.

Cũng theo vị chuyên gia này thì đến khi 11 dự án đập thủy điện trên dòng chính sông Mê kong được hoàn thành, chắc chắn toàn bộ lượng trầm tích đáy sẽ không còn chảy về hai sông Tiền và Hậu của Việt Nam nữa.

Công trình nghiên cứu của nhà sinh thái Nguyễn Hữu Thiện được thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Sông Mê kong vào năm 2010. Ông Nguyễn Hữu Thiện trình bày lại tình hình như sau:

“Theo nghiên cứu của mấy giáo sư người Pháp thì Sông Mê kong trong 20 năm qua thì mất khoảng 200 triệu tấn nên lòng sông sâu trung bình khoảng 1-3 mét.

Đó là tính trung bình chứ nhiều nơi có những hố sâu lắm. Điều này do khai thác cát dữ lắm ( tại Việt Nam) rồi cả bên Kampuchia, và bên Lào cũng có; khai thác vượt khả năng cung cấp của dòng sông Mê kong.

Cát di chuyển dưới đáy khi đi ngang qua những hố sâu thì bị kẹt lại không ra được bờ biển. Mà bờ biển của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có hai dạng chính: đoạn cửa sông Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, qua Sóc Trăng xuống gần đến Bạc Liêu là đoạn bờ biển cát; đoạn từ Bạc Liêu vòng qua đến Hà Tiên là bờ biển bùn. Khi cát không ra đến được bờ biển thì bờ biển bị sạt lở dữ dội.

Từ năm 1992 đến năm 2014, các đập ở phía Trung Quốc đã làm giảm lượng phù sa một nửa; trong đó có phù sa mịn và cát sỏi dưới đáy. Nhưng cát sỏi dưới đáy do không có số liệu nên không thể biết các đập của Trung Quốc làm giảm bao nhiêu.

Nhưng phù sa mịn giảm từ 160 triệu tấn xuống còn 85 triệu tấn trong năm 2014. Điều này cũng có nghĩa vùng biển bùn từ Bạc Liêu qua Hà Tiên cũng bị sạt lở do thiếu phù sa từ phía Trung Quốc đưa xuống.

Cát cũng bị chặn bởi các đập từ phía thượng nguồn Trung Quốc; nhưng tác động chặn cát từ các đập Trung Quốc thì vài chục năm nữa chúng ta mới cảm nhận được vì đường cát đi từ trên đó xuống đến đồng bằng sông Cửu Long phải mất mấy chục năm.

Còn sạt lở bờ biển thì khoảng nửa chiều dài bờ biển của đồng bằng Sông Cửu Long đang bị sạt lở. Tức trên tổng số 700 kilomet thì hơn 300 kilomet đang bị sạt lở. Còn sạt lở ở cửa sông chủ yếu do khai thác cát ở Kampuchia và Việt Nam.”

+ Tác hại

Cùng chung đánh giá với chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện là của bà Huỳnh Mai Vân, cán bộ Sở Tài Nguyên- Môi trường tỉnh Bến Tre. Theo bà này thì tốc độ lắng phù sa mịn bị giảm đi là hiện tượng hoàn toàn trái với qui luật tự nhiên. Theo bà này thì tại nhiều địa điểm mức độ tăng phù sa mịn đã chậm lại hay chấm dứt hoàn toàn.

Ông Lê Mạnh Hùng, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Thủy Lợi, cho rằng với khối lượng cát khai thác như hiện nay, trong vòng không đầy 30 năm nữa nguồn cát trên hai dòng sông Tiền và Hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long sẽ cạn kiệt.

Chuyên gia sinh thái Đồng bằng Sông Cửu Long, Nguyễn Hữu Thiện, nói đến vai trò của cát trên sông như sau: “Cát còn có vai trò ổn định lòng sông và bờ sông. Từ trước đến nay chúng ta khai thác cát vô tội vạ nên dẫn đến hậu quả ngày nay.

Trong luật Việt Nam hiện nay thì cát chỉ được xem là vật liệu xây dựng bình thường chứ chưa khẳng định vai trò của nó trong việc ổn định đồng bằng, ổn định đáy sông và ổn định bờ biển.

Do đó thường không có những đánh giá tác động môi trường cho xứng đáng.”

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chiếm thuộc Khoa Môi trường Đại học Cần Thơ có ý kiến đối với tình hình được nêu ra như sau:

“Người ta cho rằng sâu hơn vài ba mét tùy nơi do phù sa ít cộng với có thể do quá trình móc lấy cát xây dựng. Điều đó mới nói vậy thôi chứ chưa có nghiên cứu nào cho thật sự đàng hoàng

Nhận định chung của người ta là thấy bây giờ cát bị móc nhiều và đập xây trên sông Mê kong.

Tình trạng sạt lở thì dân thấy có xảy ra ở một vài nơi; nhất là vào lúc triều kiệt. Lở thường xảy ra tại chân những ‘vịnh’ nơi có nhiều người dân sinh sống có nhà ở.

Theo tôi nhận định nơi ở thường là chợ ở khúc sông sâu. Chính vì khúc sông sâu đó nơi ghe cập bến, vận chuyển dễ dàng hơn. Sinh hoạt chợ búa nhộn nhịp với nhiều tàu bè thì lại tiếp thêm gây lở.”

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện cũng có ý kiến:

“Chuyện sạt lở cũng xảy ra trên dòng chính sông Tiền, sông Hậu đoạn phía thượng lưu của đồng bằng sông Cửu Long: Châu Đốc, Hồng Ngự sạt lở dữ dội.

Khi khai thác cát làm dòng sông sâu đi, nước chảy xiết ở bên dưới và ăn ngầm dưới chân gọi là ‘ăn hàm ếch’. Đến lúc một khối lớn bên trên bị đổ xuống sông. Ngay trong đồng bằng cũng bị sạt lở như ở Cần Thơ, sông Cái Răng…”

Vừa qua lãnh đạo của Công ty TNHH Trường Phát có trụ sở chính tại Tiền Giang gửi văn bản đến Bộ Giao Thông Vận tải xin tạm dừng hợp đồng dự án nạo vét luồng Sông Tiền đoạn từ thành phố Mỹ Tho đến huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang dài hơn 40 kilomet.

//—

Đây là điều rất nguy hiểm, cần phải thấy rằng cát là một nguồn tài nguyên quí chứ không phải là loại vật liệu bình thường dùng san lấp nền, xây dựng nên cứ khai thác vô tội vạ như bây giờ!

– Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện

—//

Cơ sở cho đề nghị được giám đốc Trần Duy Phương của công ty Trường Phát nêu rõ là luồng Sông Tiền thuộc địa phận hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre bị sâu bất thường, không còn cát sỏi; nếu như tiếp tục nạo vét sẽ dẫn đến sạt lở nghiêm trọng.

Theo khảo sát của công ty Trường Phát vào năm 2012 thì luồng Sông Tiền có độ sâu trung bình khoảng 9 mét; chỉ cần nạo vét để đạt độ sâu trên 10 mét cho tàu vận tải đi lại.

Tính toán ban đầu cho thấy có thể nạo vét chừng 1 triệu rưỡi mét khối; thế nhưng trong 4 tháng trời dọc theo 10 kilomet chỉ nạo vét được 12 ngàn mét khối.

Tình trạng tốc độ sâu thêm của sông Tiền và Hậu diễn ra nhanh hơn từ năm 2008 đến nay cũng được thừa nhận bởi một viên chức của Ngành Quản lý Đường thủy Nội địa phía Nam, ông Hoàng Văn Hùng. Theo ông này tình trạng đó xảy ra trên toàn tuyến chứ không riêng nơi nào.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện đưa ra dự báo cho tương lai nếu như tình trạng hiện nay tiếp diễn:

“Trong tương lai khi 11 đập tại vùng hạ lưu vực ( sông Mê kong) gồm 9 đập ở Lào và 2 đập ở Kampuchia xây dựng xong thì thì tất cả nghiên cứu đều đồng ý với nhau 100% cát không về đồng bằng sông Cửu Long nữa; tức vật liệu di chuyển dưới đáy không về đến đồng bằng Cửu Long nữa.

Lúc đó chúng ta thấy lượng cát chúng ta có hiện nay chỉ bấy nhiêu thôi, hết không còn nguồn cung cấp nữa. Đây là điều rất nguy hiểm, cần phải thấy rằng cát là một nguồn tài nguyên quí chứ không phải là loại vật liệu bình thường dùng san lấp nền, xây dựng nên cứ khai thác vô tội vạ như bây giờ!”

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chiếm có những đề xuất nhằm có thể giải quyết tình trạng như vừa nêu: “Về mặt biện pháp có những dự án người ta nghĩ phải xây bờ kè… Tôi là người làm trong lĩnh vực sinh học nên tôi nghĩ bờ kè sinh học tốt hơn.

Thay vì làm bằng sắt thép, xi măng nên làm kè bằng cây bản địa chống chịu được điều kiện lở đất ví dụ cây bần, cây mắm cho ven biển. Trong nội địa thì trồng bần hay dừa nước…

Đó là hình thức rẻ tiền hơn và thân thiện môi trường. Bây giờ trong điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập không nhiều mà xây dựng nhiều quá thì rất khó.

Tài nguyên giảm thì phải có kế hoạch chuyển đổi xây dựng kiểu khác. Nhà nước phải có chiến lược sử dụng tài nguyên hợp lý hơn. Phải có chính sách bảo vệ môi trường.”

Thực tiễn được nhận định là rất đáng ngại thế nhưng cho đến nay hầu như cảnh báo chỉ mới được gióng lên và các địa phương vẫn chưa thấy được mối nguy đang chực chờ để phối hợp cùng nhau giải quyết.

Ảnh: Một máy xúc cát đặt dọc theo sông Mekong ở Vientiane hôm 31/5/2016. AFP photo

Tham khảo:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/ScienceAndEnvironment/major-river-of-vn-mekong-delta-bcome-unusually-deeper-gm-08232016110959.html

Thảm hoạ vì các dự án phát triển trên sông Mêkông

Vũ Quốc Ngữ 06/04/2018

(By Tom Fawthrop (*) The Diplomat, 02/03/2018)

+ Chiến lược lớn của Trung Quốc ở sông Mêkông tác động như thế nào tới dòng sông, và các quốc gia ở hạ nguồn?

Từ lâu, sông Mêkông là một bí ẩn đối với nhiều nhà thám hiểm, chuyên gia về động vật hoang dã, và nhà khoa học say mê về thác nước vì những thác nước ngoạn mục cùng với những con cá heo đang bị đe doạ tuyệt chủng, những con cá mập khổng lồ và những con cá sấu Siamese. Đa dạng sinh học của con sông này đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Amazon.

Trong những năm gần đây, dòng sông quốc tế tuyệt vời này chảy qua sáu quốc gia ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa họcvà chuyên gia tư vấn năng lượng trên một khía cạnh rất khác: làm thế nào để khai thác dòng chảy mạnh mẽ của sông này trong việc sản xuất điện năng bằng đập thủy điện.

Mỗi một ý tưởng nào nhằm bảo vệ môi trường cho kỳ quan của sông Mêkông đã bị phá vỡ bởi dự án lớn của Trung Quốc mang tên Một vành đai – Một con đường (Belt Road Initiative- BRI) với trọng tâm của nó là nhằm mục đích thương mại, phát triển cơ sở hạ tầng, và xây dựng nhiều đập thuỷ điện dọc theo sông này.

Trên bờ sông Mêkông ở Chiang Khong, miền bắc Thái Lan, cư dân địa phương và giáo viên Niwat Roykaew nói về tầm quan trọng của sông “Sông Mêkông rất đặc biệt đối với người dân ở đây. Cộng đồng của chúng tôi hiểu được điều gì quan trọng cho cuộc sống: nước, rừng, đất và văn hoá”.

Ông nhìn thấy linh hồn của dòng sông như một phần quý giá của di sản văn hóa của đất nước, một cái gì đó nên được giữ lại không để các lợi ích tài chính vượt qua. “Nhiều chính phủ chỉ nghĩ về khía cạnh kinh tế”, ông nói. “Họ không nghĩ gì về thiên nhiên và văn hoá”.

Nhưng Bắc Kinh có một quan điểm rất khác về sông Mêkông (sông được gọi là Lancang ở Trung Quốc) vì quốc gia này nhằm mục tiêu phát triển kinh tế nhanh chóng trong khu vực.

Liệu có động lực mạnh mẽ của khu vực hướng tới hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế Trung Quốc nhằm tạo ra giao thông suôn sẻ dọc theo sông Mêkông, quét sạch mọi trở ngại và sự phản đối của địa phương ra khỏi con đường của nó?

Tại cuộc họp của Bộ trưởng Ngoại giao về Hợp tác Lancang-Mêkông (LMC) ở Dali, Vân Nam, hồi tháng 12 năm ngoái, đã có dấu hiệu cho thấy niềm tin đang lan toả từ Trung Quốc. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã mô tả quy trình LMC như là một bước chuẩn bị cho “chiếc máy ủi” để đưa ra cơ chế thúc đẩy hợp tác nhịp nhàng giữa các quốc gia thành viên.

Ông Vương nói: “LMC không phải là chỗ nói chuyện, mà là chiếc xe ủi đất đang tiến lên phía trước vững vàng, chắc chắn để biến sự hợp tác trở thành hiện thực”.

Đó là một loại ngôn ngữ khiến nhiều người ở khu vực hạ lưu lo lắng, bao gồm một số nhà ngoại giao của ASEAN. Tại phiên họp Dali, các quan chức Trung Quốc khăng khăng đòi sử dụng thuật ngữ đó trong thông cáo báo chí chung.

Trung Quốc rất tự tin về vị thế của mình, với hai quốc gia – Lào và Campuchia – đang cần các khoản vay, đầu tư và có nhiều cam kết. Tuy nhiên, một cuộc xung đột lớn về chia sẻ tài nguyên nước một cách công bằng đã diễn ra ở Thái Lan và thậm chí nhiều hơn ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nơi các đập thượng nguồn và biến đổi khí hậu làm cho khu vực có nguy cơ phải đối mặt với hạn hán nghiêm trọng hơn.

Trong khi Trung Quốc đang thúc đẩy BRI của mình trên sông, nghiên cứu gần đây nhất cảnh báo rằng sông Mêkông đang đối mặt với nguy cơ lớn chưa từng có do khai thác quá mức và việc xây dựng ồ ạt một cách không kiểm soát nhiều nhà máy thuỷ điện.

Ông Marc Goichot thuộc Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và là chuyên gia về nguồn tài nguyên nước của sông Mekong, nói: “Hai mươi năm trước đây, sông Mêkông là một trong những hệ sinh thái nhiệt đới lớn cuối cùng”.

Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long đang chìm và co lại. Tất cả những điều này đang đẩy nhiều loài nước ngọt như cá heo lên bờ vực tuyệt chủng, đồng thời gây ra những hạn chế nghiêm trọng cho tăng trưởng kinh tế”. WWF đã kêu gọi một cách tiếp cận khác nhau đối với phát triển kinh tế ở sông Mêkông.

Năm ngoái, một báo cáo chung của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) và Viện Môi trường Stockholm (SEI) cho thấy “dòng chảy của trầm tích/chất dinh dưỡng ở sông Mêkông đã giảm 70% do các đập ở Trung Quốc được xây dựng trên sông Lanang (là phần thượng lưu của sông Mêkông) ở Trung Quốc”.

“Trầm tích là điều quan trọng đối với sức khoẻ của con sông và rất cần thiết cho việc bổ sung đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam”. Đáng buồn thay, các kiến trúc sư Trung Quốc của chiến lược BRI dường như không quan tâm đến tình trạng của con sông.

+ Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong

Việc Trung Quốc nắm giữ các nguồn tài nguyên nước quý giá này đã được đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai của LMC tổ chức tại Phnom Penh vào tháng 1 năm 2018 với sự tham dự của các lãnh đạo đến từ sáu quốc gia dọc theo sông.

LMC đã được đề xuất, xây dựng và thiết lập bởi Trung Quốc vào năm 2016 với tư cách là một tổ chức đối nghịch với Uỷ hội sông Mêkông (MRC) thành lập từ lâu, với bốn quốc gia thành viên là Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

MRC được thành lập theo Hiệp định Mêkông năm 1995 với nhiệm vụ tạo điều kiện cho việc quản lý tốt sông Mekong trên tinh thần hữu nghị và hợp tác dựa trên các quy tắc và thủ tục. Trung Quốc và Myanmar đã lựa chọn vị thế quan sát viên.

Thitinan Pongsudhirak, giám đốc của Viện An ninh và Nghiên cứu Quốc tế (ISIS), Đại học Chulalongkorn ở Thái Lan, bình luận tại một diễn đàn rằng “LMC là một cách chỉ ra rằng Trung Quốc chỉ chơi theo các quy tắc riêng của mình. Quốc gia này xây dựng nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn gây thiệt hại cho các nước ở vùng hạ lưu, và sau đó thành lập cơ quan quản lý của chính mình”.

Theo Paul Chambers, một chuyên gia về quan hệ quốc tế tại Đại học Naresuan của Thái Lan, thì “Trung Quốc đang tìm cách làm cho Ủy hội Sông Mekong không liên quan đến việc thành lập LMC.

Bắc Kinh muốn xâm nhập vào lục địa Đông Nam Á, duy trì khu vực như là một ngoại vi của việc kiểm soát chiến lược của nó. Đối với Trung Quốc, việc kiểm soát vùng sông Mêkông đã trở thành một trường hợp cổ điển về quyền lãnh đạo địa lý”.

Bên cạnh việc xây nhiều đập, Trung Quốc đang xây dựng đường sắt để kết nối thành phố Côn Minh với Bangkok qua Vientiane và một xa lộ để nối Phnom Penh với Sihanoukville của Campuchia. Các dự án cơ sở hạ tầng này tạo ra các hoạt động xây dựng khác bao gồm khu căn hộ, nhà chọc trời, các thành phố vệ tinh, chợ và trung tâm mua sắm.

Cuối cùng, cuộc khủng hoảng về môi trường mà các nước ở khu lực hạ lưu, đặc biệt là Campuchia và Việt Nam, đã bị cuốn theo tấm thảm đỏ của Trung Quốc.

Một ví dụ rõ ràng về vai trò phổ biến của Trung Quốc trong khu vực là vấn đề tham nhũng được biết đến như khu phức hợp Kings Romans Casino ở Bokeo thuộc miền bắc nước Lào.

Nằm trong Khu kinh tế Đặc biệt Tam giác vàng (GTSEZ), chính quyền nơi này nằm trong tay một nhóm doanh nghiệp Trung Quốc, có liên quan chặt chẽ đến buôn bán động vật hoang dã.

+ Giao thông trên sông thuận lợi hoặc sự nhiễu loạn ở tương lai?

Chiến lược của Trung Quốc đối với khu vực Mêkông đã không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào ở Lào, nước yếu nhất trong bốn quốc gia MRC. Một tuyến đường sắt cao tốc kết nối Côn Minh ở tỉnh Vân Nam với biên giới Lào và Thái Lan đã được xây dựng. Trung Quốc có thể được hưởng lợi từ kết nối này với Thái Lan, nhưng Lào cần phải đạt được những gì?

Brian Eyler, giám đốc khu vực Đông Nam Á tại Trung tâm Stimson của Hoa Kỳ, tỏ thái độ hoài nghi, nói rằng “rõ ràng Trung Quốc sẽ đạt được nhiều nhất từ dự án xây dựng 6 tỷ đô la”.

“Dự án sẽ có những tác động sâu sắc đến nền kinh tế địa phương”, Eyler nói thêm. “Tôi tin rằng việc xây dựng tuyến đường sắt sẽ mở ra cơ hội khai thác khoáng sản và gỗ rừng mà các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ nhảy vào, và điều này sẽ chỉ dẫn đến sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên của Lào”.

Có vẻ như các quân bài được xếp chồng lên nhau để ủng hộ Trung Quốc trong nỗ lực củng cố quyền kiểm soát ‘sân sau’ địa lý chính trị của mình. Chiến lược địa chính trị của Bắc Kinh có thể dựa vào Thủ tướng Campuchia Hun Sen, lãnh đạo Lào và các lãnh đạo địa phương để nắm quyền bá chủ Trung Quốc dọc theo Mekong.

Tuy nhiên, sông Mekong lớn nổi tiếng với những cơn giông và bất ổn. Các kỹ sư Trung Quốc đã thuần hóa dòng chảy hoang dã trên sông Lancang khi nó chảy qua Trung Quốc, nhưng họ chưa bao giờ nhận ra tầm quan trọng của dòng chảy trầm tích đối với toàn bộ hệ thống sông Mêkông.

+ Sự phản kháng của các nước hạ vùng lưu sông Mêkông

Sông Mekong cung cấp một lượng thủy sản nước ngọt lớn nhất trên hành tinh này. Sông có một tầm chiến lược quan trọng, cung cấp an ninh lương thực cho 60 triệu người. Mâu thuẫn lớn về chia sẻ tài nguyên nước quý báu có thể sẽ leo thang về lâu dài, dẫn đến sự phản kháng của các nước hạ vùng lưu sông Mêkông đối với quyền bá chủ ngày càng tăng của Trung Quốc.

Tại Thái Lan, Nhóm Bảo tồn Chiềng Khong đã tổ chức một loạt các cuộc biểu tình vào năm 2017 nhằm vào “Dự án Cải thiện giao thông sông Mêkông” của Trung Quốc, một thuật ngữ hùng hồn nhằm phá bỏ các thác, đá và các hòn đảo nhỏ xinh đẹp trên sông để các tàu lớn có thể đi trên đường thủy dài nhất Đông Nam Á.

Đến năm 2020, Trung Quốc có kế hoạch loại bỏ tất cả các trở ngại tự nhiên để xây dựng một làn đường vận chuyển an toàn dài 890 kilômét kéo dài từ cảng Simao phía nam tỉnh Vân Nam, thông qua đoạn phía bắc của Thái Lan tới thủ đô Lào cổ và là trung tâm du lịch của Luang Prabang.

Các tàu khảo sát Trung Quốc nghiên cứu các hòn đảo và thác tại Khon Pi Luang, khoảng 20 km từ thượng nguồn của cảng Chiang Khong của Thái Lan, là mục tiêu của một cuộc biểu tình trên sông của cư dân địa phương với các khẩu hiệu “Sông Mekong không phải để bán”, và “Ngừng mọi Vụ nổ trên sông Mekong” bằng tiếng Thái và tiếng Trung.

Cho đến nay, Chính phủ Thái Lan chỉ chấp thuận cho các tàu khảo sát Trung Quốc vào khu vực sông chia cắt Thái Lan và Lào để thu thập thông tin để đánh giá. Quyết định cuối cùng về nổ mìn không được đưa ra. Chính phủ quân sự Thái Lan không cho phép, nhưng không phải vì các vấn đề môi trường.

Ở miền bắc Thái Lan, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp đang thận trọng với sáng kiến của Trung Quốc. Wiroon Khampilo, cựu chủ tịch Phòng Thương mại Chiang Rai và một doanh nhân trong tỉnh, cho biết các doanh nghiệp ở Thái Lan sẽ không được trợ giúp bởi dự án chuyển hướng.

Trung Quốc sẽ gặt hái được những lợi ích, đồng thời phá hỏng môi trường của Thái Lan. Trung Quốc sẽ gặt hái được những lợi ích, đồng thời phá hỏng môi trường của Thái Lan. Dự án lớn này sẽ cung cấp các thuận lợi lớn cho các thương nhân Trung Quốc và có thể giúp nhiều sản phẩm của Trung Quốc đổ vào thị trường Thái Lan với giá rẻ hơn bao giờ hết trong tương lai.

Wiroon cũng cảnh báo rằng việc cho phép Trung Quốc thay đổi dòng chảy sẽ gây nguy hiểm cho sinh kế của người dân địa phương và do đó, nền kinh tế địa phương, phụ thuộc rất nhiều vào một hệ sinh thái sông nước lành mạnh.

+ Những dự án dưới tên gọi cải thiện sẽ đem lại lợi ích

Các nhà lãnh đạo Chiang Khong đã kiến nghị với Ủy ban Nhân quyền Quốc gia (NHRC) để thách thức sự hợp tác của Thái Lan với kế hoạch của Trung Quốc vào năm 2017.

Nhưng có lẽ quan trọng hơn lý do kinh tế nếu bật đèn xanh cho phép Trung Quốc sử dụng thuốc nổ để nắn lại dòng sông là mối quan ngại về an ninh quốc gia liên quan đến chủ quyền và phân chia ranh giới quốc gia giữa Thái Lan với nước láng giềng Lào.

Biên giới hai nước là đường nước giữa sông Mêkông. Điều này có thể khiến dự án “Một vành đai, một con sông” vốn được kiểm soát bởi Trung Quốc trở nên quá sức chịu đựng của chính thể quân sự Thái.

+ Thế còn vấn đề văn hóa

Tham vọng của Trung Quốc để xây dựng một cảng mới trên sông Mekong và các dự án khác đặt ra một mối đe dọa lớn cho sự tồn tại văn hoá của một trong những di sản thế giới phổ biến nhất của châu Á, thủ đô cổ xưa của Luang Prabang ở Lào.

Paul Chambers của Đại học Naresuan của Thái Lan đã vẽ ra bức tranh tàn khốc về những gì có thể xảy ra với biểu tượng văn hoá này trong khu vực trong 10 đến 15 năm tới nếu kế hoạch nắn sông được thực hiện.

Ông nói: “Sự chuyển đổi nhanh chóng của di sản thế giới ở Lào sẽ dẫn đến việc thành phố này bị thay thế bởi một trung tâm thương mại của Trung Quốc và là sự sắp đặt của nghệ thuật và kiến trúc văn hoá Trung Quốc ở miền bắc nước này. “Luang Prabang sẽ trở thành một thị trấn mới của Trung Quốc”.

Sự chuyển đổi này đã được tiến hành ở những nơi khác trong nước, và đang gây ra sự oán giận. Một học giả ở miền bắc Lào, người yêu cầu giấu tên, nhận xét rằng “tinh thần chống Trung Quốc đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây vì họ cảm thấy ngày càng trở thành một tỉnh của Trung Quốc”.

Việc xây dựng đập Pak Beng trên sông Mekong cách Thái Lan 100 km do người Trung Quốc hậu thuẫn, đã bị đình trệ bởi các dạng “biến động” khác nhau bao gồm nhiều cuộc biểu tình chống đập (ở Chiang Khong), kiện tụng nhằm ngăn cản sự hỗ trợ của Thái Lan đối với đập, và việc người Thái xem xét lại kế hoạch sử dụng điện năng.

Dự án đập Pak Beng, với tổng mức đầu tư 2,4 tỷ đô la, là một dự án thủy điện 912 megawatt đang được phát triển bởi Datang Pak Beng Hydropower Co. Ltd, một công ty có trụ sở tại Bắc Kinh. Dự kiến, 90% điện năng của nhà máy này sẽ được bán cho Thái Lan. Tuy nhiên, hiệp định mua bán điện đang bị đình trệ trong khi Bangkok đang xem xét lại kế hoạch tiêu thụ năng lượng.

Dự kiến việc xây dựng Pak Beng được khởi công vào tháng 12 năm 2017, là đập thứ ba của Lào ở hạ lưu sông Mêkông.

Nhóm Chiang Khong của Niwat Roykaew là một trong những nguyên đơn trong một vụ kiện chống lại Sở Thuỷ lợi Thái Lan và Uỷ hội sông Mêkông Thái Lan, là những cơ quan nhà nước đã ủng hộ việc xây đập.

Theo một cách khác của câu chuyện Pak Beng, có vẻ như công ty Trung Quốc đang phải đối phó với rủi ro của nhà đầu tư, thay đổi kế hoạch sử dụng năng lượng và phe đối lập Thái Lan. Công ty đã có một cuộc đối thoại với Mạng lưới Người Thái Lan ở Mêkông từ tám tỉnh, do nhóm Chiang Khong dẫn đầu – có lẽ là cuộc đối thoại đầu tiên giữa phía xây dựng đập và một mạng lưới đối lập địa phương ở Thái Lan.

Sau cuộc gặp lịch sử, thông cáo báo chí đã được ban hành, lưu ý: “Chúng tôi Mạng lưới nhân dân Thái Lan tuyên bố thái độ của chúng tôi từ Đối thoại với Datang Pak Beng Hydropower Co. Ltd. Chúng tôi yêu cầu một đánh giá tổng hợp của các đập thủy điện trên sông Mekong bao gồm Xayaburi, Sanakham, Pak Beng và Don Sahong.

Chúng tôi ủng hộ một cuộc đối thoại dựa trên cơ sở của các bằng chứng, và khẳng định sự quan tâm của chúng tôi đối với một quá trình đối thoại đang diễn ra.

Ở Việt Nam, cách đầu nguồn của sông Mêkông ở Trung Quốc khoảng 4.000 km, nông dân lo lắng khi nhìn thấy đồng bằng bị thu hẹp và chìm dần, với sự nhiễm mặn ngàycàng trầm trọng ở vựa lúa lớn nhất nước. Các nhà phát triển thường cho rằng đập giúp giảm nghèo.

Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Thiện, một nhà sinh thái học ở Cần Thơlàtrung tâm đồng bằng sông Cửu Long, nói ngược lại. “Ở đồng bằng, suy thoái môi trường dẫn đến đói nghèo, căng thẳng xã hội, thậm chí cả căng thẳng giữa các quốc gia. Tác động của đập nên được coi là một vấn đề an ninh phi truyền thống gây ra những bất ổn xã hội và chính trị”, ông nói.

Ông Thiện cho biết tương lai của vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long rất ảm đạm. Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam và đóng góp khoảng 23% cho GDP của quốc gia. Ông Thiện nói: “Khi hàng triệu người ở vùng sông Mêkông bị nghèo đói do tác động của các đập (cũng như biến đổi khí hậu), người dân sẽ phải di chuyển ở nơi khác để tìm kiếm việc làm”.

+ Liệu Trung Quốc có thể thay đổi?

Liệu Trung Quốc có bị áp lực để thay đổi mô hình phát triển của mình theo hướng xanh hơn, bền vững hơn?

Xuezhong Yu, một nhà khoa học môi trường thủy điện cao cấp, xem xét việc phân bổ nước và các tác động môi trường của các dự án thủy điện như là hai vấn đề xuyên biên giới quan trọng ở lưu vực sông Lancang-Mekong.

Theo một nghiên cứu của Yu thì “Sự thành công của hợp tác về tài nguyên nước sẽ tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau và củng cố quan hệ đối tác toàn diện và hợp tác giữa các quốc gia ở Lancang-Mekong. Phát triển thủy điện sẽ là cốt lõi của hợp tác về tài nguyên nước”.

Nhưng cho đến nay khuôn khổ LMC không cung cấp bất kỳ không gian cho các cuộc tranh luận quan trọng đối với việc xây dựng đập Mekong. Đối thủ của nó, Ủy hội sông Mêkông, tạo điều kiện thảo luận, tham vấn, quan hệ đối tác bình đẳng giữa các quốc gia thành viên, và cung cấp một số nhận thức về vai trò của xã hội dân sự. Tất cả nhữngđiều này không có trong LMC.

Theo Zhou Dequn, nhà sinh vật học bảo tồn thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Côn Minh, nhiều công ty thủy điện của Trung Quốc đã tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) một cách cẩu thả và không tham khảo ý kiến cộng đồng địa phương. Zhou lưu ý rằng “những loại vụ lợi này cũng xảy ra đối với các dự án thủy điện do Trung Quốc tài trợ ở Lào”.

Chu đã báo cáo trong Chinadialogue rằng “Trung Quốc đang xuất khẩu hành vi kinh doanh xấu và sự thiếu hiểu biết về luật pháp đối với khu vực sông Mêkông. Các doanh nhân giàu có của chúng ta ở nước ngoài không quan tâm hoặc không có năng lực kỹ thuật để thúc đẩy tính bền vững, cũng không xem xét bối cảnh luật pháp của hành động của họ”.

Tại Phnom Penh, Youyi Zhang-nghiên cứu sinh tại Đại học Cornell, phát biểu “Đúng là Trung Quốc đã đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ nhiệt điện sử dụng than đá và thủy điện sang các nước đang phát triển, vì nhu cầu trong nước đang giảm. Các công ty Trung Quốc này tạo ra các liên minh chặt chẽ với chính phủ nước chủ nhà và tạo ra các nhóm lợi ích”.

+ Có cách nào để thay đổi điều này?

Zhang trả lời rằng “chính phủ nước chủ nhà nên thực hiện nghiêm túc khuôn khổ pháp lý môi trường và xã hội và loại bỏ các doanh nghiệp có những hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Khi áp lực tăng, chính sách sẽ thay đổi”.

Trong trường hợp dự án Pak Beng, áp lực tăng buộc các công ty Trung Quốc cần phải cân nhắc nhiều hơn về rủi ro của nhà đầu tư và tác động môi trường cũng như tham vấn với các bên liên quan ở địa phương. Các nhà đầu tư có trách nhiệm hơn đã học được một bài học lớn từ việc đình chỉ siêu dự án đập thuỷ điện Myitsone của Trung Quốc ở Myanmar.

Brian Eyler của Trung tâm Stimson chỉ ra những rủi ro về tài chính và môi trường liên quan đến các con đập ở Mêkông và cho rằng phát triển năng lượng ở Mêkông đang ở ngã ba đường. Theo Eyler, các nhà phát triển Trung Quốc có thể chuyển sang các dự án phát điện năng lượng tái tạo không phải là thủy điện và cải tiến việc truyền tải điện thay vì xây ồ ạt đập thuỷ điện tạo ra sự phát triển không bền vững cho khu vực.

Các quốc gia vùng hạ lưu sông Mêkông cũng cần phải vận động hành lang để Trung Quốc tăng cường đầu tư vào việc sản xuất năng lượng mặt trời và gió, ông nói.

Đây cũng có thể là một sự thay thế chấp nhận được đối với Bắc Kinh. Xuất khẩu của các công ty năng lượng mặt trời và gió của Trung Quốc và các công ty thủy điện của họ đều nhận được sự hỗ trợ chính thức của Nhà nước và cả hai đang đấu thầu nhiều hợp đồng năng lượng hơn ở hạ lưu sông Mêkông.

Trong khi đó, giá các tấm pin mặt trời và tua-bin gió đã giảm đáng kể đến nỗi các chính quyền khu vực không còn có thể bỏ qua năng lượng xanh vớilý do chi phí cao.

Ví dụ, tiềm năng năng lượng xanh chưa sử dụng của Campuchia đã được ghi nhận bởi các đối tác chiến lược Mêkông (MSP) trong một báo cáo năm ngoái, kết luận rằng “Chính phủ Campuchia có thể đạt được sự tự cung cấp điện thông qua việc phát triển năng lượng mặt trời trong vòng 12 tháng dưới những điều kiện thích hợp”.

+ Cái gì tiếp theo: Sự bất ổn và mất an ninh lương thực hoặc một lộ trình phát triển bền vững mới?

Tại hội nghị thượng đỉnh LMC tháng 1 năm 2018, Thủ tướng Trung Quốc Lý Kế Giang nhấn mạnh rằng Trung Quốc muốn duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên, các nhà phê bình cho rằng chiến lược phát triển của BRI không phải là thúc đẩy sự ổn định, mà sẽ khuấy động sự bất ổn và thúc đẩy sự suy thoái của một dòng Mekong đang trong tình trạng khủng hoảng.

Theo nhà nghiên cứu Đông Nam Á Bruce Shoemaker, thì Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một môi trường ổn định để đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở khu vực Mekong, nhưng tác động của các đập thuỷ điện trên sông Mekong là sự mất ổn định các hệ thống sinh kế dựa vào thủy sản mà hàng triệu người phải phụ thuộc vào”.

Dòng chảy mạnh mẽ của hệ sinh thái sông Mêkông thúc đẩy sự ổn định bằng cách đảm bảo an ninh lương thực ở tất cả các nước vùng hạ lưu sông Mêkông và an ninh nông nghiệp ở Campuchia và Việt Nam.

Mối đe doạ gây ra bởi thuỷ điện trên sông Mekong, cùng với những tác động của biến đổi khí hậu, phải được quan tâm bởi các tổ chức khu vực và quốc tế. Những hậu quả đối với Campuchia và Việt Nam mang tính tàn phá và đảo ngược phần lớn tiến bộ đạt được trong việc đạt được các mục tiêu Phát triển Bền vững của LHQ.

Nhưng các cơ quan LHQ sẽ bị tác động nhiều nhất bởi sự sụp đổ của hệ sinh thái sông Mêkông – như Quỹ Nhi đồng (UNICEF), Chương trình Phát triển (UNDP), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) và Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) cho đến nay không nói gì nhiều về vấn đề này.

Nguyễn Hữu Thiện, nhà sinh thái học người Việt Nam, kết luận rằng các tổ chức quốc tế phải làm nhiều hơn nữa: “Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng quan trọng nhất trên thế giới. Cộng đồng quốc tế nên xem xét tác động xấu của các đập thuỷ điện như là một vấn đề an ninh nghiêm trọng trong khu vực và quốc tế”.

Nếu Trung Quốc muốn tránh xung đột về tài nguyên nước và sự bất ổn trong tương lai của khu vực Mê Kông, thì Bắc Kinh cần phải chọn một khuôn khổ hoàn toàn khác để tham gia và đầu tư ở vùng hạ lưu sông và xây dựng một lộ trình mới dựa trên phát triển bền vững.

Trừ phi chính sách của Trung Quốc thừa nhận rằng một môi trường ổn định đòi hỏi phải bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an ninh lương thực, các di sản, và sự đa dạng văn hoá của khu vực, thì tình trạng bất ổn và một sự hỗn loạn mới có thể nhấn chìm khu vực Mekong.

Bản dịch của Vũ Quốc Ngữ

Chú thích:

(*): Tom Fawthrop là đạo diễn hai bộ phim về xây đập thủy điện trên sông Mekong, bao gồm phim tài liệu “Giết sông Mekong bằng các đập thủy điện” do Eureka Films sản xuất năm 2017. Ông cũng đã báo cáo rộng rãi về Mekong cho các báo, tạp chí như Guardian, Economist và các phương tiện truyền thông quốc tế khác.

(**): Dự án lớn của Trung quốc Một vành đai – Một con đường (Belt Road Initiative- BRI); Hợp tác Lancang-Mêkông (LMC); Uỷ hội sông Mêkông (MRC)

Tham khảo:

https://thediplomat.com/2018/03/the-unfolding-mekong-development-disaster/

https://gocsan.blogspot.com/2018/04/the-unfolding-mekong-development.html